Bi bể phốt bằng bê tông, tức là các đốt ống cống tròn dùng để xây bể tự hoại, là cấu kiện rất đơn giản về hình dạng nhưng lại đòi hỏi sự chính xác trong bố trí nếu muốn bể hoạt động đúng nguyên lý phân hủy kỵ khí. Khi bố trí sai, bể không phải là bể tự hoại nữa mà chỉ là cái hố chứa, và hố chứa thì nhanh đầy, nhanh tắc và nhanh bốc mùi là điều tất yếu.
Ba nguyên nhân phân tích dưới đây không phải lý thuyết. Chúng là những lỗi bố trí xuất hiện lặp đi lặp lại trong thực tế xây dựng nhà ở dân dụng, và mỗi lỗi đều có cơ chế rõ ràng giải thích tại sao nó gây ra vấn đề.
Nội dung chính
- 1 Bể tự hoại bằng cống bi bê tông bể phốt hoạt động theo nguyên lý nào?
- 2 Nguyên nhân 1: Số ngăn không đủ hoặc thể tích mỗi ngăn quá nhỏ
- 3 Nguyên nhân 2: Cao độ ống dẫn giữa các ngăn bố trí sai
- 4 Nguyên nhân 3: Thiếu hoặc bố trí sai ống thông hơi
- 5 Cống bi bê tông không cốt thép: Ưu và nhược điểm trong ứng dụng bể phốt
- 6 Quy trình lắp đặt bể phốt bằng cống bi bê tông đúng kỹ thuật
- 7 Bảo trì bể phốt đúng chu kỳ để tránh tắc nghẽn không đáng có
- 8 Bể phốt đúng hay bể phốt tiết kiệm: Tổng chi phí mới là con số thực
- 9 Thông tin liên hệ:
Bể tự hoại bằng cống bi bê tông bể phốt hoạt động theo nguyên lý nào?
Để hiểu tại sao bố trí sai gây tắc, cần nắm được nguyên lý hoạt động đúng của bể tự hoại trước. Bể tự hoại không đơn thuần là bể chứa. Nó là một hệ thống xử lý sinh học kỵ khí, nơi vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ trong nước thải theo quá trình tự nhiên không cần oxy.
Cống bi bê tông không cốt thép là loại ống bê tông tròn, thường có đường kính từ 800mm đến 1200mm, được xếp chồng thẳng đứng làm thân bể. Mỗi bể thường gồm hai đến ba ngăn thông nhau qua ống dẫn ngầm. Nước thải đi vào ngăn thứ nhất, chất rắn lắng xuống đáy và phân hủy kỵ khí, phần nước trong hơn tràn sang ngăn hai rồi thoát ra ngoài qua ống dẫn xuống đất hoặc vào hố thấm.
Quá trình đó chỉ vận hành đúng khi ba yếu tố được đảm bảo: thể tích ngăn đủ lớn cho thời gian lưu nước tối thiểu, cao độ ống dẫn giữa các ngăn bố trí đúng để chỉ phần nước trong tràn qua (không kéo theo cặn), và hệ thống thông hơi đủ để khí sinh ra từ quá trình phân hủy thoát ra ngoài. Thiếu bất kỳ điều kiện nào, bể mất đi chức năng xử lý và chỉ còn là bể chứa thụ động.

Nguyên nhân 1: Số ngăn không đủ hoặc thể tích mỗi ngăn quá nhỏ
Đây là lỗi phổ biến nhất và cũng là lỗi dễ hiểu nhất về mặt kinh tế: gia chủ hoặc nhà thầu muốn tiết kiệm chi phí vật liệu, giảm số đốt cống bi, kết quả là bể quá nhỏ so với tải lượng thực tế.
Thể tích bể tự hoại tối thiểu theo TCXD 51:2008 về thoát nước đô thị được xác định từ lưu lượng nước thải ngày và thời gian lưu nước thiết kế, thường không dưới 1,5 ngày. Với hộ gia đình 4 đến 6 người sử dụng khoảng 100 lít nước mỗi người mỗi ngày, thể tích bể tối thiểu là 3 đến 4 m3. Nhiều bể xây trong thực tế chỉ đạt 1 đến 1,5 m3, tức là thiếu một nửa so với yêu cầu tối thiểu.
Tại sao bể quá nhỏ lại gây tắc nhanh hơn?
Khi thể tích bể không đủ, thời gian lưu nước thải trong ngăn thứ nhất quá ngắn để vi khuẩn kỵ khí phân hủy chất rắn hiệu quả. Chất rắn chưa phân hủy bị cuốn theo dòng nước chảy sang ngăn thứ hai, tích lũy ở đó và lấp dần thể tích hữu dụng. Quá trình đó diễn ra nhanh hơn nhiều so với bể đúng kích thước vì cứ một lượng nước thải mới vào, một lượng cặn chưa phân hủy lại bị đẩy sang ngăn kế tiếp thay vì được xử lý tại chỗ.
Kết quả là bể phốt không những đầy sớm hơn mà chất lượng nước thoát ra cũng kém hơn. Nước từ ngăn hai thoát ra ngoài đất chứa nhiều chất hữu cơ chưa xử lý, gây bít dần hố thấm và mùi hôi lan ra xung quanh.
Cách tính thể tích bi bể phốt cần thiết
Công thức thực hành đơn giản thường được áp dụng trong xây dựng dân dụng:
- Số người sử dụng nhân với 200 lít bằng thể tích bể tối thiểu tính theo lít. Ví dụ nhà 5 người cần tối thiểu 1.000 lít tức là 1 m3. Tuy nhiên đây chỉ là ngưỡng tối thiểu tuyệt đối, thực tế nên tăng thêm 50 phần trăm để có dự phòng, tức là bể cho 5 người nên đạt 1,5 m3 trở lên.
- Chia đều thể tích đó theo tỷ lệ 2:1 giữa ngăn một và ngăn hai. Ngăn một cần lớn hơn vì đây là nơi tích tụ cặn lắng nhiều nhất và cần thời gian lưu dài nhất để vi khuẩn làm việc hiệu quả.
- Với cống bi đường kính 1000mm, mỗi đốt cao 1m có thể tích thực khoảng 0,75 m3 (trừ đi thành cống và đáy). Ba đến bốn đốt xếp chồng cho mỗi ngăn thường là số tối thiểu cần thiết cho hộ gia đình bình thường.
Một sai lầm hay gặp nữa liên quan đến thể tích: đếm tổng số đốt cống bi bể phốt nhưng không tính đến phần đất lấp phía trên không thực sự chứa nước. Chiều cao hữu dụng của bể là từ đáy lên đến mức ống dẫn ra, không phải từ đáy lên đến miệng bể. Phần phía trên ống dẫn ra là phần chứa khí, không phải chứa nước.

Nguyên nhân 2: Cao độ ống dẫn giữa các ngăn bố trí sai
Nguyên nhân thứ hai ít được nhắc đến hơn nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng xử lý nước thải. Ống dẫn nối giữa ngăn một và ngăn hai của bể phốt không phải ống đặt ở bất cứ độ sâu nào cũng được. Vị trí chính xác của nó theo chiều đứng quyết định bể hoạt động đúng hay sai nguyên lý.
Trong bể tự hoại, nước thải phân thành ba lớp theo tỷ trọng. Lớp dưới cùng là cặn lắng đặc, nơi vi khuẩn kỵ khí hoạt động mạnh nhất. Lớp giữa là vùng nước trong tương đối, đã được phân hủy một phần. Lớp trên cùng là lớp váng nổi gồm dầu mỡ, chất xơ và bọt khí. Chỉ lớp giữa, tức là phần nước trong, mới được phép tràn sang ngăn hai.
Hậu quả khi ống dẫn đặt quá thấp
Khi ống dẫn giữa hai ngăn được đặt quá gần đáy bể, ống nằm trong vùng cặn lắng. Cặn chưa phân hủy bị cuốn theo dòng chảy thẳng sang ngăn hai. Ngăn hai nhanh chóng bị lấp bởi cặn thay vì chỉ tiếp nhận nước đã xử lý. Toàn bộ chức năng phân tầng xử lý của bể mất tác dụng, bể hoạt động như một bể chứa đơn giản.
Tình huống này thường xảy ra khi thợ thi công đặt ống nối quá sát đáy vì tưởng như vậy sẽ cho nước thoát tốt hơn. Thực ra hoàn toàn ngược lại: ống quá thấp làm bể tắc nhanh hơn vì cặn tràn liên tục sang ngăn thứ hai.
Hậu quả khi ống dẫn đặt quá cao
Chiều ngược lại cũng có vấn đề. Khi ống dẫn được đặt quá cao gần mặt nước, lớp váng nổi bên trên dễ bị cuốn vào ống mỗi khi có lưu lượng nước thải đổ vào ngăn một đột ngột. Lớp váng này bao gồm dầu mỡ từ bếp, chất xơ từ giấy vệ sinh và các vật liệu có xu hướng kết tụ thành khối. Khi lớp váng đi vào ống dẫn và sang ngăn hai, nó bám vào thành ống, tích tụ dần và gây tắc nghẽn cơ học tại mối nối ống.
Vị trí lý tưởng của ống dẫn giữa hai ngăn là nằm ở khoảng 1/2 đến 2/3 chiều cao mực nước trong bể, tính từ đáy lên. Tại vị trí đó, ống nằm trong vùng nước trong, tránh cả lớp cặn phía dưới và lớp váng phía trên. Ống dẫn cũng nên được bọc tee (chữ T ngược) ở cả hai đầu để tạo ra cơ chế hút nước từ giữa thân bể thay vì từ bề mặt hay đáy.

Nguyên nhân 3: Thiếu hoặc bố trí sai ống thông hơi
Đây là nguyên nhân ít được gia chủ nghĩ đến nhất khi bể bị tắc hoặc bốc mùi, vì ống thông hơi không nhìn thấy được sau khi lấp đất và không có liên quan gì trực tiếp đến đường chảy của nước thải. Tuy nhiên, thiếu thông hơi là nguyên nhân âm thầm phá hỏng hiệu quả phân hủy của bể và gây mùi ngược vào nhà.
Quá trình phân hủy kỵ khí trong bể tự hoại sinh ra hỗn hợp khí gồm chủ yếu là khí methane (CH4), khí carbon dioxide (CO2) và khí hydrogen sulfide (H2S). H2S là loại khí có mùi trứng thối rất đặc trưng. Nếu các khí này không có đường thoát ra ngoài, chúng tích tụ bên trong bể và gây ra hiệu ứng áp suất ngược, làm chậm lại quá trình phân hủy sinh học và đẩy mùi hôi ngược lên qua đường ống vào nhà vệ sinh.
Hai lỗi thông hơi phổ biến nhất
Lỗi thứ nhất là không có ống thông hơi hoặc ống thông hơi bị bịt kín do xây nhầm. Tình huống này gặp ở nhiều công trình tự xây hoặc xây theo kinh nghiệm không dựa trên thiết kế kỹ thuật. Không có đường thoát khí, áp suất trong bể tăng dần và toàn bộ hệ thống chậm lại. Biểu hiện thường thấy là cống trong nhà vệ sinh chảy rất chậm dù đường ống không bị tắc.
Lỗi thứ hai là ống thông hơi có nhưng đặt sai vị trí. Ống thông hơi phải kết nối vào phần không gian khí phía trên mực nước trong bể, tức là khoảng 200mm đến 300mm từ đỉnh bể xuống. Nếu ống thông hơi kết nối vào thân bể ở vị trí thấp hơn mực nước, ống sẽ bị ngập, không thoát khí được và bể tích lũy áp suất y như không có ống thông hơi.
Ống thông hơi phải thông đến đâu?
Ống thông hơi không chỉ cần có mà còn cần dài đủ để thoát khí ở độ cao không gây phiền toái. Theo thông lệ thiết kế, ống thông hơi bể phốt nên đưa lên trên mái nhà hoặc ít nhất cao hơn tầng nhà thấp nhất 50cm để khí H2S thoát ở độ cao đủ phát tán tự nhiên, không gây mùi ở tầm người ở.
Nhiều công trình đặt ống thông hơi thò ra khỏi mặt đất chỉ 30cm đến 50cm trong khuôn viên sân vườn. Khí thoát ra ở độ cao thấp đó không phát tán đủ nhanh, tích tụ gần mặt đất và gây mùi hôi lan ra khu vực xung quanh, nhiều khi bị nhầm là mùi từ cống thoát nước chứ không phải từ bể phốt.
Với các bể phốt đặt gần nhà, ống thông hơi nên được dẫn vào hệ thống thông hơi của đường ống nước thải trong nhà và thoát ra cùng với ống thông hơi tổng trên mái. Đây là giải pháp gọn gàng, không để lộ ống thông hơi trong khuôn viên và đảm bảo khí thoát ở độ cao an toàn.

Cống bi bê tông không cốt thép: Ưu và nhược điểm trong ứng dụng bể phốt
Cống bi bê tông không có cốt thép được dùng làm bể phốt vì nhiều lý do thực tế. Thứ nhất, bể phốt không chịu tải trọng bên ngoài lớn như cống thoát nước dưới đường, nên yêu cầu cốt thép không bắt buộc trong điều kiện bình thường. Thứ hai, bê tông không cốt thép nhẹ hơn, dễ vận chuyển và hạ xuống hố đào bằng tay hoặc thiết bị đơn giản. Thứ ba, giá thành thấp hơn cống cốt thép nên phù hợp với quy mô đầu tư nhỏ của bể phốt hộ gia đình.
Tuy nhiên, cống bi không cốt thép có giới hạn rõ ràng về khả năng chịu lực. Mối nối giữa các đốt là điểm yếu nhất: nếu nền đất lún không đều hoặc bị xói lở do nước thấm, mối nối có thể bị hở, gây rò rỉ nước thải ra đất xung quanh. Điều này đặc biệt đáng lo ngại với các hộ gia đình có giếng nước hoặc ở khu vực nước ngầm nông.
Khi nào nên cân nhắc chuyển sang cống bi có cốt thép?
Có một số tình huống nên cân nhắc dùng cống bi có cốt thép dù chi phí cao hơn:
- Đất nền yếu, có lịch sử lún hoặc san lấp ao hồ: đất yếu lún không đều tạo lực uốn tại mối nối các đốt ống, dễ làm nứt ống bê tông không cốt thép theo thời gian.
- Bể phốt nằm gần móng nhà hoặc dưới sân đỗ xe: tải trọng từ công trình và xe cộ truyền xuống đất xung quanh bể có thể gây áp lực lên thân bể, cần cốt thép để chịu lực uốn.
- Mực nước ngầm cao: áp lực đẩy nổi của nước ngầm tác động lên đáy và thân bể, đặc biệt khi bể chưa đầy nước thải. Cốt thép giúp bể chịu được lực đẩy nổi tốt hơn.
Với các hộ gia đình ở điều kiện bình thường, nền đất tốt và không có tải trọng đặc biệt, cống bi bê tông không cốt thép hoàn toàn đủ điều kiện và bền vững nếu được lắp đặt đúng kỹ thuật.
Quy trình lắp đặt bể phốt bằng cống bi bê tông đúng kỹ thuật
Nắm được ba nguyên nhân gây tắc, bước tiếp theo là áp dụng vào quy trình lắp đặt để tránh mắc phải từ đầu. Đây là trình tự các bước chính cần kiểm soát:
- Bước đầu tiên là xác định thể tích bể cần thiết trước khi mua vật liệu, không phải sau. Tính toán theo số người sử dụng và lưu lượng nước thải ngày, cộng thêm 30 đến 50 phần trăm dự phòng. Từ thể tích đó, xác định số đốt cống bi cần cho mỗi ngăn.
- Bước thứ hai là đào hố đúng kích thước và xử lý đáy hố. Đáy hố cần được đầm chặt và đổ lớp bê tông đáy dày tối thiểu 100mm trước khi hạ đốt ống đầu tiên. Không đặt đốt ống xuống nền đất mềm chưa xử lý vì nền đất yếu lún làm hở mối nối theo thời gian.
- Bước thứ ba là hạ từng đốt ống theo thứ tự, kiểm tra thẳng đứng sau mỗi đốt và chèn vữa mối nối kỹ trước khi hạ đốt tiếp theo. Không hạ toàn bộ rồi mới chèn vữa vì không đảm bảo chất lượng mối nối ở các đốt dưới cùng.
- Bước thứ tư là bố trí ống dẫn giữa hai ngăn đúng cao độ, từ 1/2 đến 2/3 chiều cao mực nước tính từ đáy. Ống nên được bọc chữ T ngược ở cả hai đầu. Kiểm tra cao độ ống bằng thước trước khi lấp đất.
- Bước cuối là đặt ống thông hơi nối vào phần không gian khí phía trên mực nước của từng ngăn và dẫn lên độ cao đủ, tối thiểu cao hơn mái tầng thấp nhất. Kiểm tra thông ống bằng cách thổi nhẹ vào miệng ống trước khi lấp đất xung quanh.

Bảo trì bể phốt đúng chu kỳ để tránh tắc nghẽn không đáng có
Dù bể được bố trí đúng hoàn toàn, vẫn cần bảo trì định kỳ vì cặn lắng tích tụ theo thời gian và cần được hút bỏ để bể duy trì thể tích hữu dụng. Chu kỳ hút bể phụ thuộc vào thể tích bể và số người sử dụng, thường từ 2 đến 5 năm một lần với bể đúng kích thước.
Một cách kiểm tra đơn giản để biết bể có cần hút không: dùng gậy dài thò xuống ngăn một, đo chiều cao cặn lắng từ đáy lên. Khi chiều cao cặn chiếm hơn 1/3 chiều sâu hữu dụng của bể, đó là lúc cần hút. Không cần chờ đến khi có mùi hoặc chảy chậm vì lúc đó cặn đã ảnh hưởng đến chức năng xử lý của bể.
Sau khi hút bể, không rửa sạch hoàn toàn bên trong. Giữ lại một lượng nhỏ nước thải cũ trong bể để duy trì quần thể vi khuẩn kỵ khí. Nếu bể bị hút sạch hoàn toàn và bơm nước sạch vào để rửa, cần vài tuần đến vài tháng để vi khuẩn phát triển trở lại và bể mới hoạt động hiệu quả.
Bể phốt đúng hay bể phốt tiết kiệm: Tổng chi phí mới là con số thực
Ba nguyên nhân tắc nghẽn phân tích trong bài đều có điểm chung: chúng xuất phát từ những quyết định tiết kiệm vật liệu hoặc thiếu kiến thức kỹ thuật ngay từ giai đoạn xây dựng. Mỗi quyết định đó tạo ra chi phí vận hành tích lũy theo năm: hút bể thường xuyên, xử lý mùi hôi, sửa chữa đường ống bị ảnh hưởng và trong trường hợp xấu nhất là đào lên làm lại toàn bộ.
Bể phốt không phải hạng mục nổi bật trong ngân sách xây nhà. Nhưng chi phí xử lý hậu quả của một bể bố trí sai hoàn toàn có thể vượt qua chi phí làm đúng ngay từ đầu chỉ sau vài năm sử dụng.
Bi bể phốt là vật liệu đơn giản. Bố trí bể phốt đúng nguyên lý thì không đơn giản. Khoảng cách giữa hai điều đó chính là nơi phần lớn sự cố và chi phí không đáng có phát sinh.
Thông tin liên hệ:
Hotline: 0906 39 18 63
Điện thoại: 028 6278 9955
Website: www.vlxdminhquan.com | www.betongmqb.com
Email: minhquanmqb2015@gmail.com

Nhận xét bài viết!